Niềm tin và định kiến: Câu chuyện của người Việt tại Nhật Bản
Auf einen Blick
Tác giả, một cựu nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, suy ngẫm về cộng đồng người Việt, đối lập niềm tin của doanh nhân Nhật Bản Sato Yo qua quỹ học bổng với thực tế phiên dịch viên cảnh sát thường xuyên nhận cuộc gọi về người Việt, nhấn mạnh gánh nặng định kiến dù phần lớn cộng đồng sống tử tế.
KI-generierte Zusammenfassung
Warum es wichtig ist
Tác giả, một cựu nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản, suy ngẫm về những trải nghiệm đối lập của cộng đồng người Việt, từ sự hỗ trợ của Quỹ học bổng Sato Yo đến những cuộc gọi hàng ngày mà một phiên dịch viên cảnh sát nhận được liên quan đến người Việt.
“Ngày nào cảnh sát cũng gọi điện”.
Chị nói bình thản.
"Đi phiên dịch".
"Người Việt Nam".
Chỉ vài câu ngắn ngủi. Không có tên người, không có chi tiết vụ việc, cũng không có lời than phiền nào. Nhưng từ lúc ấy cho đến khi rời Nhật Bản, tôi cứ nghĩ mãi về cuộc trò chuyện đó.
Chị là người Việt Nam, đang sống tại tỉnh Chiba và cộng tác với cảnh sát địa phương trong vai trò phiên dịch. Khi tôi hỏi công việc thế nào, chị nói ngày nào cũng có việc.
Tôi nghĩ có thể là thủ tục hành chính, những vụ va chạm giao thông hoặc các tình huống cần hỗ trợ người nước ngoài. Nhưng chị lắc đầu.
Cảnh sát gọi để phiên dịch trong các buổi lấy lời khai, hỏi cung hoặc thẩm vấn. Đối tượng liên quan là người Việt Nam. Chúng tôi cùng im lặng. Tôi không hỏi thêm. Có những câu chuyện không cần nghe hết cũng đủ khiến người ta thấy nặng lòng.
Vài ngày trước cuộc gặp ấy, tôi dự lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Quỹ học bổng quốc tế Sato Yo tại Tokyo.
Giữa một khán phòng có nhiều thế hệ lưu học sinh đến từ các quốc gia khác nhau, tôi nhớ lại quãng thời gian gần 20 năm trước, khi mình còn là một nghiên cứu sinh Việt Nam tại Nhật Bản - mang theo ước mơ học tập, cùng không ít lo toan nơi đất khách. Học bổng của Quỹ Học bổng Quốc tế Sato Yo giúp tôi gác lại những áp lực về kinh tế để dành trọn thời gian cho nghiên cứu: được tập trung, được thử sức và được trưởng thành.
Nhưng điều theo tôi lâu nhất lại không phải là số tiền học bổng. Đó là câu hỏi: tại sao một người Nhật Bản chưa từng quen biết lại sẵn sàng giúp đỡ những người như mình nhiều đến vậy?
Tôi chưa từng có cơ hội gặp Sato Yo khi ông còn sống. Tôi chỉ biết ông qua những câu chuyện của Quỹ và qua cách mọi người nhắc đến ông bằng sự kính trọng.
Ông là doanh nhân Nhật Bản, người sáng lập Tập đoàn Sato và Quỹ học bổng quốc tế mang tên mình. Ông đã dành nguồn lực để hỗ trợ những sinh viên nước ngoài đến Nhật Bản học tập, trong đó có nhiều người Việt Nam. Trong nhiều năm, tôi vẫn không thực sự hiểu động lực nào khiến một người dành tâm huyết và tài sản của mình cho những người trẻ đến từ những đất nước xa lạ.
Trong lễ kỷ niệm 30 năm, tôi nhìn quanh khán phòng. Có người đã trở thành giáo sư đại học của Nhật Bản hoặc đại học ở đất nước của họ. Có người là doanh nhân. Có người làm việc trong các cơ quan nhà nước. Có người vẫn tiếp tục nghiên cứu.
Mỗi người đến từ một quốc gia khác nhau, nói một ngôn ngữ khác nhau và đi theo một con đường khác nhau. Nhưng tất cả đều có một điểm chung.
Chúng tôi từng được một người xa lạ tin tưởng.
Khi được mời lên phát biểu, tôi nói rằng điều quý giá nhất mình nhận được từ Quỹ không hoàn toàn là sự hỗ trợ tài chính. Đó là niềm tin.
Ông Sato Yo tin rằng nếu một người trẻ được trao cơ hội học tập và trưởng thành, người ấy rồi sẽ làm điều có ích cho xã hội. Niềm tin không đòi hỏi sự báo đáp trực tiếp. Người trao học bổng có thể không bao giờ gặp người nhận. Ông cũng không biết chính xác những sinh viên được giúp đỡ rồi sẽ trở thành ai, làm việc ở đâu hay đóng góp được điều gì. Ông chỉ gieo một hạt giống và tin rằng, ở một thời điểm nào đó, hạt giống ấy sẽ lớn lên.
Có lẽ đó là lý do câu hỏi ấy theo tôi suốt gần 20 năm. Bởi khi nhận được sự giúp đỡ từ một người chưa từng quen biết, ta không chỉ thấy biết ơn. Ta còn thấy mình mang một món nợ. Không phải món nợ tiền bạc. Mà là món nợ của niềm tin.
Vì thế, khi nghe người bạn ở Chiba kể về những cuộc gọi hằng ngày của cảnh sát, điều tôi cảm thấy không chỉ là buồn.
Tôi thấy mình mắc nợ. Mắc nợ những người Nhật Bản từng mở rộng vòng tay với nhiều thế hệ sinh viên, thực tập sinh và người lao động Việt Nam. Mắc nợ những người từng tin rằng chúng tôi đến đây để học tập, làm việc và cùng xây dựng những điều tốt đẹp.
Tất nhiên, không thể nhìn cả cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản qua một vài câu chuyện tiêu cực. Trong những năm học tập và làm việc tại đây, tôi đã gặp rất nhiều người Việt Nam đáng quý.
Có những người dành phần lớn tuổi trẻ trong phòng thí nghiệm. Có những người làm việc trong nhà máy từ sáng đến tối. Có người mở doanh nghiệp và tạo việc làm cho cả người Nhật Bản lẫn người Việt Nam. Có những người sống rất giản dị, làm việc cần mẫn, tuân thủ pháp luật và đối xử tử tế với những người xung quanh.
Họ hiếm khi xuất hiện trên báo chí.
Không ai kể về một kỹ sư Việt Nam vừa hoàn thành tốt một dự án. Ít ai đưa tin về một nghiên cứu sinh vừa công bố một công trình khoa học. Cũng ít người nói về những người lao động Việt Nam đều đặn đi làm mỗi ngày, đóng thuế, nuôi gia đình và cố gắng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp.
Nhưng chính họ mới là phần lớn của cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản.
Thế nhưng, những điều tốt đẹp thường âm thầm, còn một hành vi sai trái có thể được nhắc đến rất lâu. Chỉ một vụ trộm cắp, một vụ lừa đảo cũng có thể khiến người ta nhìn cả một cộng đồng bằng ánh mắt khác. Người phạm pháp phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nhưng người sống tử tế cũng phải âm thầm chịu đựng định kiến mà họ không tạo ra.
Đó là điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất.
Không ai có thể đại diện cho cả một dân tộc. Nhưng khi sống ở nước ngoài, mỗi người đều góp một phần vào cách khiến người khác nhớ về quê hương mình.
Một lời hứa được giữ.
Một quy định được tôn trọng.
Một công việc được hoàn thành nghiêm túc.
Một cách ứng xử tử tế.
Những điều ấy tưởng như rất nhỏ, nhưng qua thời gian, chúng có thể tạo nên niềm tin giữa con người với con người và giữa cộng đồng với cộng đồng. Ngược lại, niềm tin được xây dựng trong nhiều năm cũng có thể bị tổn thương bởi những hành vi của số ít.
Sáng hôm rời Tokyo để ra sân bay Narita, tôi ngồi trên chuyến tàu quen thuộc. Bên ngoài cửa kính, những hàng cây vẫn xanh. Những con phố vẫn sạch sẽ. Người lên tàu vẫn xếp hàng trong trật tự. Mọi thứ dường như không có gì thay đổi.
Nhưng trong đầu tôi vẫn hiện lên hai hình ảnh. Một bên là buổi lễ kỷ niệm 30 năm của một Quỹ học bổng được hình thành từ niềm tin của một người Nhật Bản dành cho những sinh viên nước ngoài. Một bên là những cuộc điện thoại mà người bạn phiên dịch ở Chiba nhận được mỗi ngày.
Máy bay rời Nhật Bản. Tokyo nhỏ dần dưới những tầng mây. Tôi mang về Việt Nam những tài liệu phục vụ công việc, các kế hoạch mới và những cuộc hẹn cho tương lai. Nhưng điều ở lại lâu nhất trong tôi không thể cất vào vali.
Đó là câu hỏi đã theo tôi gần 20 năm: tại sao một người chưa từng quen biết lại sẵn sàng giúp mình nhiều đến vậy? Nhưng có lẽ hôm nay tôi đã tìm thấy câu trả lời.
Bởi ông tin rằng con người có thể sống không chỉ cho bản thân mình.
Và có lẽ cách tốt nhất để cảm ơn niềm tin ấy không phải là bằng những lời nói lớn lao, mà là sống sao để người từng tin mình không phải thất vọng.
Offene Fragen
- Số lượng cụ thể các vụ việc liên quan người Việt Nam là bao nhiêu?
- Nguyên nhân sâu xa của các hành vi sai trái là gì?
- Quỹ học bổng Sato Yo đã hỗ trợ bao nhiêu sinh viên Việt Nam?







