
AI-generated summary
Sau các hiệp ước 1883-1884, Pháp bắt đầu kiểm soát Việt Nam. Vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần vương năm 1885 kêu gọi kháng chiến. Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm hoạt động của phong trào Cần vương nhờ có nhiều văn thân, sĩ phu và địa hình thuận lợi.
Ba Đình - cuộc khởi nghĩa đỉnh cao của phong trào Cần vương, chỉ kéo dài hơn 30 ngày song để lại nhiều dấu ấn, sau này được đặt tên cho quảng trường lớn nhất Việt Nam.
Sau khi nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng năm 1858, Pháp từng bước mở rộng kiểm soát Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiệp ước năm 1883 và 1884, chấp nhận sự chi phối của người Pháp. Trong bối cảnh đó, phong trào chống Pháp ở Thanh Hóa phát triển mạnh, đặc biệt sau khi vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần vương năm 1885.
Theo Kỷ yếu hội thảo khoa học khởi nghĩa Ba Đình, NXB Hóa 2018, Thanh Hóa khi ấy có đội ngũ văn thân, sĩ phu đông đảo, địa hình trải dài từ đồng bằng đến miền núi, thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ và tổ chức lực lượng. Trong Chiếu Cần vương lần thứ hai tháng 9/1885, Thanh Hóa được xác định là địa bàn chiến lược quan trọng để xây dựng căn cứ lâu dài.
Từ cuối năm 1885, nhiều thủ lĩnh ở các vùng tập hợp lực lượng. Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt hoạt động ở Hậu Lộc; Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc; Hà Văn Mao ở miền núi phía tây; Cầm Bá Thước ở Thường Xuân cùng nhiều văn thân, sĩ phu khác tổ chức nghĩa binh chống Pháp.
Đầu năm 1886, trước sức ép quân sự ngày càng tăng, các thủ lĩnh xứ Thanh thống nhất xây dựng hệ thống căn cứ liên hoàn. Tại cuộc họp ở Bồng Trung, Vĩnh Lộc, Ba Đình được xác định là căn cứ trọng yếu ở đồng bằng, trong khi Mã Cao giữ vai trò hỗ trợ ở phía tây.
Ba Đình trở thành căn cứ kháng chiến
Ba Đình nằm trên ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê, thuộc huyện Nga Sơn. Những ngôi làng này nằm giữa vùng đồng chiêm trũng, được bao bọc bởi sông Hoạt và sông Chính Đại. Địa hình nhiều nước, hệ thống lũy tre và vị trí các làng tương đối gần nhau tạo điều kiện xây dựng căn cứ phòng thủ liên hoàn.
Các thủ lĩnh bàn bạc tận dụng địa thế tự nhiên, đồng thời huy động người dân xây dựng công sự. Người già, trẻ em được vận động di chuyển tới nơi khác, trai tráng và một bộ phận phụ nữ ở lại đào hào, đắp lũy, vận chuyển lương thực và hỗ trợ lực lượng chiến đấu.
Mỗi làng đóng góp 30 chiếc rọ lớn, 100 cây tre tươi còn nguyên ngọn và 10 gánh rơm. Tre được dùng làm hàng rào, rọ tre chứa đất, bùn và rơm rạ để gia cố thành. Theo tư liệu lịch sử, có thời điểm người dân chỉ trong một đêm đắp hơn một km tường đất để hoàn thiện công sự.
Căn cứ được bố trí thành nhiều lớp. Vòng ngoài là lũy tre và các chốt gác, tiếp đến là hào nước sâu khoảng 3-4 m, các bãi chông và thành đất dày 8-10 m. Trên mặt thành, những rọ tre chứa đất, bùn trộn rơm rạ được xếp thành từng lớp, vừa gia cố công sự vừa tạo vị trí che chắn và chiến đấu.
Ba đồn chính tương ứng với ba làng. Đồn Thượng ở Thượng Thọ do Nguyễn Viết Toại chỉ huy; đồn Trung tại Mậu Thịnh do Đinh Công Tráng phụ trách; đồn Hạ ở Mỹ Khê do Phạm Bành và Nguyễn Khế đảm nhiệm. Các vị trí được nối bằng giao thông hào, giúp lực lượng bên trong cơ động và hỗ trợ lẫn nhau.
Ngoài ba đồn chính, nghĩa quân bố trí các đồn tiền tiêu nhằm cảnh giới và bảo vệ vòng ngoài. Phía sau Ba Đình là hệ thống các căn cứ hỗ trợ, trong đó có Mã Cao. Nhờ vậy, Ba Đình nằm trong mạng lưới phòng thủ rộng hơn thay vì hoạt động biệt lập.
Lực lượng thường trực tại Ba Đình khoảng 300 người, được tổ chức thành 10 cơ đội. Thành phần tham gia đến từ nhiều địa phương, gồm người Kinh, Mường, Thái... Vũ khí chủ yếu của nghĩa quân là súng hỏa mai, súng kíp, súng thần công, cung, nỏ, giáo, mác và chông tre. Trong khi đó, quân Pháp có bộ binh được trang bị súng hiện đại hơn và pháo binh, tạo ra chênh lệch đáng kể về hỏa lực.
Phạm Bành và Đinh Công Tráng giữ vai trò chỉ huy chủ chốt, cùng Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Viết Toại, Nguyễn Khế và một số thủ lĩnh khác tổ chức lực lượng, bố trí phòng thủ.
Không chỉ chờ đối phương tiến công, nghĩa quân nhiều lần tập kích các vị trí và tuyến giao thông quanh Ba Đình. Một trong những mục tiêu là đồn Tam Cao trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc Nam. Các hoạt động này gây sức ép lên hệ thống đồn bốt và tuyến vận chuyển chiến lược khiến phía Pháp phải tăng cường lực lượng phòng bị và tìm cách sớm đàn áp.
Hơn 30 ngày đêm trong vòng vây quân Pháp
Cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Ba Đình, NXB Thanh Hóa, 2010 ghi lại ngày 18/12/1886, quân Pháp mở cuộc tiến công quy mô đầu tiên vào Ba Đình từ hai hướng. Một cánh do trung tá Metzinger chỉ huy từ phía tây nam, cánh còn lại do trung tá Dodds chỉ huy từ phía đông bắc.
Bộ binh phối hợp pháo binh tiến đánh các vị trí tiền tiêu trước khi tìm cách áp sát căn cứ. Ở hướng đông bắc, lực lượng tiến công vào khu vực núi Thúc gặp sự chống trả quyết liệt. Ở hướng tây nam, cánh quân của Metzinger cũng không đạt mục tiêu như dự kiến.
Sau đợt tiến công đầu tiên, quân Pháp chuyển sang chiến lược bao vây và tăng cường lực lượng. Đầu tháng 1/1887, đại tá Brissaud được điều tới chỉ huy chiến dịch. Khoảng 2.500 quân viễn chinh cùng炮兵 hạng nặng được huy động.
Ngày 6/1, các mũi tiến công tiếp tục áp sát căn cứ. Đạn pháo liên tục bắn vào hệ thống phòng thủ. Các lớp hào, lũy tre, thành đất và công sự được gia cố bằng rọ tre giúp nghĩa quân Ba Đình tiếp tục chống trả mãnh liệt. Càng về sau, vòng vây càng khép chặt. Quân Pháp tổ chức các vị trí bao vây, đồng thời sử dụng pháo binh và thuốc nổ để phá từng đoạn công sự.
Ngày 20/1, sau hơn một tháng chiến đấu, tình thế của nghĩa quân trở nên bất lợi khi căn cứ bị bao vây nhiều phía và khả năng tiếp tế ngày càng hạn chế. Thay vì chờ đến khi công sự bị phá hoàn toàn, lực lượng Ba Đình chủ động rút khỏi căn cứ trong đêm để bảo toàn lực lượng.
Cuộc chiến đấu tại Ba Đình được tính từ ngày 18/12/1886 đến 21/1/1887, kéo dài khoảng 34 ngày đêm.
Sau khi rời Ba Đình, lực lượng được chia thành nhiều hướng. Một bộ phận theo Đinh Công Tráng về Mã Cao, tiếp tục duy trì hoạt động. Tuy nhiên, căn cứ này sau đó cũng bị đánh phá, khiến mạng lưới kháng chiến tại Thanh Hóa suy yếu.
Các thủ lĩnh Ba Đình tiếp tục chiến đấu trong những điều kiện cam go. Đinh Công Tráng rút về Nghệ An gây dựng lực lượng và hy sinh trong một trận đánh ngày 5/10/1887. Phạm Bành sau đó bị bắt trong hoàn cảnh gia đình bị khống chế; ông uống thuốc độc tự vẫn sau khi mẹ và con được thả. Hoàng Bật Đạt cùng nhiều thủ lĩnh khác lần lượt hy sinh hoặc bị bắt.
Theo TS Lê Ngọc Tạo, Hội Khoa học Lịch sử Thanh Hóa, khởi nghĩa Ba Đình thất bại về quân sự nhưng cho thấy khả năng huy động nhân lực, vật lực của cư dân địa phương và cách các thủ lĩnh Cần vương tận dụng địa hình để xây dựng căn cứ.
Ba Đình được tổ chức như một hệ thống làng chiến đấu, trong đó địa hình chiêm trũng tạo lớp phòng thủ tự nhiên, còn hào nước, lũy tre, thành đất, bãi chông và giao thông hào tạo thành các tuyến bảo vệ liên hoàn. Tuy nhiên, căn cứ cố định khó duy trì khi phải đối mặt với lực lượng và hỏa lực vượt trội của đối phương trong thời gian dài.
Dù thất bại, khởi nghĩa Ba Đình trở thành một trong những căn cứ tiêu biểu của phong trào Cần vương tại Thanh Hóa cuối thế kỷ 19. Cuộc chiến cũng cho thấy vai trò của người dân địa phương trong việc cung cấp vật liệu, lương thực, xây dựng công sự và hỗ trợ lực lượng chiến đấu.
Từ chiến lũy Ba Đình đến quảng trường lớn nhất Việt Nam
Gần sáu thập niên sau khi cuộc khởi nghĩa kết thúc, tên Ba Đình xuất hiện tại trung tâm Hà Nội. Điều này xuất phát từ mong muốn của Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai.
Trong thời gian giữ chức đốc lý Hà Nội (từ ngày 20/7 đến 19/8/1945), bác sĩ Trần Văn Lai chủ trương thay tên đường, quảng trường, vườn hoa mang tên tiếng Pháp bằng tên danh nhân và sự kiện lịch sử Việt Nam. Vườn hoa Pugininer trước Phủ Toàn quyền Đông Dương được đổi tên thành vườn hoa Ba Đình, gợi nhớ cuộc khởi nghĩa tại Thanh Hóa cuối thế kỷ 19.
Chỉ ít tuần sau, ngày 2/9/1945, tại chính không gian vườn hoa mang tên Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, Ba Đình trở thành địa danh gắn với nhiều sự kiện chính trị - lịch sử quan trọng của Việt Nam.
Tên Ba Đình tiếp tục được sử dụng cho quảng trường và sau này là quận Ba Đình của Hà Nội. Từ tên gọi của ba làng ở vùng chiêm trũng Nga Sơn, Ba Đình trở thành một địa danh quen thuộc ở Thủ đô.
Tại Thanh Hóa, căn cứ khởi nghĩa Ba Đình được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992. Tuy nhiên, sau 140 năm, phần lớn dấu tích của căn cứ cũ không còn. Năm 2022, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án bảo tồn, tôn tạo khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình với tổng mức đầu tư hơn 95 tỷ đồng.
Công trình nằm trên diện tích khoảng 1,6 ha, gồm đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình, nhà tả vu, hữu vu, phù điêu, hào lũy... Dự án hiện chuẩn bị khánh thành, góp phần tái hiện không gian khởi nghĩa Ba Đình - đỉnh cao của phong trào Cần vương cuối thế kỷ 19.
AI outlook — possibilities, not facts
Dự án bảo tồn khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình sẽ được khánh thành trong năm 2023.
Very likely · Within months

Đại học Công nghệ Texas lưu trữ hơn 2,7 triệu trang tư liệu về bộ đội Việt Nam, bao gồm thư tay, nhật ký, giấy tờ thu giữ trong chiến tranh. Dữ liệu giúp tìm kiếm quân nhân mất tích và cung cấp thông tin cho gia đình.

Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên nhà Trần, là nhà chính trị, quân sự, tư tưởng và thiền sư. Ông trị vì 33 năm và chuẩn bị cho các chiến thắng trước quân Nguyên Mông.

Cuốn sách "Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam" của TS Đinh Công Vĩ tuyển tập các câu chuyện tình từ huyền thoại đến cận đại, chia theo thời gian và triều đại, giúp độc giả hiểu lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Lý Nhân Tông, sinh năm 1066, là vị hoàng đế thứ tư của nhà Lý, trị vì Đại Việt từ 1072-1128. Ông nổi tiếng với thời gian trị vì gần 56 năm, nông nghiệp phát triển, khoa thi Nho học đầu tiên và Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng.

Vua Nguyễn đã đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam vào năm 1839, tồn tại đến năm 1945. Ông cũng thực hiện nhiều cải cách hành chính, quân sự và khoa cử trong 21 năm trị vì.

Quốc hiệu Việt Nam thời nhà Đinh